Canh tân đời sống linh mục theo gương thánh Phao-lô(3)

CANH TÂN ĐỜI SỐNG LINH MỤC

THEO GƯƠNG THÁNH PHAO-LÔ

 

(dựa theo cuốn “Linh mục một vài năm sau, suy gẫm về tác vụ linh mục”

 của ĐHY Carlo Maria Martini)

Dẫn nhập

Trong các bài sau đây, chúng ta sẽ cùng nhau suy tư và chiêm niệm về đề tài “Canh tân đời sống linh mục theo gương thánh Phaolô”. Tuy là những bài suy niệm dành riêng cho linh mục, nhưng cũng hữu ích để canh tân đời sống thiêng liêng cho bất cứ ai muốn đọc và suy niệm.

 

Chúng ta cùng suy gẫm sách Công Vụ Tông Đồ, chương 20, câu 17-38. Đây là “di chúc mục vụ” của thánh Phao-lô. Trong bản văn trên, thánh Tông Đồ nói với các kỳ mục Ê-phê-sô về kinh nghiệm ngài đã trải qua trong 3 năm sống với họ: kinh nghiệm về con người, về đời sống linh mục và về mục vụ.

 

Nhờ tìm hiểu và suy gẫm về “Di chúc mục vụ” của thánh Phaolô do ĐHY Martini triển khai trong cuốn: “Linh mục một vài năm sau…Suy gẫm về tác vụ linh mục”, chúng ta có thể “Canh tân đời sống linh mục theo gương thánh Phaolô”.

 

                                                                              Linh mục Mỹ Sơn, Long Xuyên

 

 

BÀI BA

THỬ THÁCH VÀ NƯỚC MẮT

CỦA NGƯỜI TÔNG ĐỒ

Lưu ý: Trước hết, cần nhắc lại 4 giai đoạn của việc đọc lời Chúa (lectio divina): đọc, suy niệm, chiêm niệm và an ủi (lectio, meditatio, contemplatio, consolatio). Việc thứ nhất là hiểu sâu bản văn nhờ việc đọc và tìm hiểu kỹ càng gọi là lectio. Lectio là làm nổi lên những yếu tố quan trọng, và so sánh với những bối cảnh xa xưa hơn hoặc gần cận hơn. Lectio dẫn đến suy niệm (meditatio). Suy niệm là cố gắng suy tư về những giá trị và sứ điệp hiện nay của đoạn văn, để nắm bắt ý nghĩa hiện tại cho chúng ta, cho Giáo Hội và cho xã hội. Suy niệm không dừng lại ở sự hiểu biết cá nhân chủ quan, mà là giai đoạn chuẩn bị cho chiêm niệm (contemplatio) là việc cầu nguyện đúng nghĩa nhất. Lúc này là lúc chúng ta đặt mình trước sự hiện diện của Đấng nói với chúng ta qua Lời Thánh Kinh, nghĩa là đối diện với Chúa Giêsu, Ngôi Lời nhập thể. Trong chiêm niệm, chúng ta sẵn sàng mở lòng đón nhận ân sủng và qui phục ý Chúa. Sau cùng là sự an ủi. Nó là hoa trái của sự khích lệ, củng cố. Dù vậy, chiêm niệm là lúc chính yếu mà Chúa Thánh Thần hiến dâng cho chúng ta như của ăn nội tâm, như dầu xoa dịu và tăng sức. Phải ý thức điều này nếu chúng ta không muốn xin ơn an ủi cách vô ích lúc chúng ta cảm thấy cần, hoặc dưới hình thức trực tiếp là niềm vui và bình an phát xuất từ tình cảm yêu mến Thiên Chúa; hoặc dưới cách thức ít nhạy cảm hơn, nhưng sâu xa và đích thực hơn, mà không có nguy có lẫn lộn ân ban với những tình cảm hoàn toàn con người.

 

Như đã nói trong phần dẫn nhập, tĩnh tâm cho phép chúng ta tiến trên con đường lectio divina cá nhân – một con đường trên đó, chúng ta hãy hết sức cố gắng dấn thân vào. Chắc chắn, công việc này không giới hạn cứng ngắc vào thời điểm suy niệm, nhưng nó phải kéo dài suốt ngày và hợp nhất mọi hoạt động của chúng ta. Thực vậy, đối với người thực hành lectio divina, sự an ủi đến từ Thiên Chúa - rất quan trọng để lấp đầy khoảng trống cô tịch của mục tử - có thể đến vào những giờ phút khác: ví dụ, trong lễ nghi phụng vụ, lúc thư giãn ngoài trời hoặc khi lần chuỗi. Nên nhớ lectio divina là phương tiện thông thường để trải nghiệm sự hiệp thông mầu nhiệm với Chúa Thánh Thần, một ân huệ củng cố mà Thiên Chúa đổ vào lòng chúng ta nhờ Thánh Thần đã được ban cho chúng ta.

 

**********************

"Anh em biết, từ ngày đầu tiên đặt chân đến A-xi-a, tôi đã luôn luôn cư xử với anh em thế nào. Khi phục vụ Chúa, tôi đã hết lòng khiêm tốn, đã nhiều lần phải rơi lệ, đã gặp bao thử thách do những âm mưu của người Do-thái. Anh em biết tôi đã không bỏ qua một điều gì có ích cho anh em; trái lại tôi đã giảng cho anh em và dạy anh em ở nơi công cộng cũng như tại chốn tư gia. Tôi đã khuyến cáo cả người Do-thái lẫn người Hy-lạp phải trở về với Thiên Chúa, và tin vào Đức Giê-su, Chúa chúng ta”.

 

Chúng ta hãy cùng tìm hiểu và suy tư về những hoàn cảnh khó khăn của thánh Phao-lô, qua đó, cho thấy nhiệt tình phụng sự Chúa của ngài ra sao.

 

1. Trước hết, hãy suy tư về thử thách thứ nhất là nước mắt. Đây là đề tài chúng ta không quen thuộc mấy, nhưng đối với các thánh thì đó lại là đề tài rất quen thuộc. Trong diễn từ Mi-lê-tô, thánh Phao-lô nói về nước mắt 2 lần ở câu 19 & 31: “Vì vậy anh em phải canh thức, và nhớ rằng, suốt ba năm, ngày đêm tôi đã không ngừng khuyên bảo mỗi người trong anh em, lắm khi phải rơi lệ”. Dường như Phao-lô nhấn mạnh trên điểm này. Nước mắt cũng được nêu lên nhiều lần trong các thư của ngài. Ví dụ trong thư thứ hai Cô-rin-tô (2, 4), thánh Tông đồ ám chỉ đến lá thư trước được viết trong phiền muộn, và con tim thổn thức, giữa bao nhiêu nước mắt. Trong thư gởi tín hữu Phi-líp-phê (3, 18), ngài nói tới nước mắt của sứ vụ ngài đảm nhận: Vì, như tôi nói với anh em nhiều lần và hôm nay tôi phải khóc mà nói lại, có nhiều người sống đối nghịch với thập giá Đức Ki-tô.

 

Do đó, không phải là không có lý do để chúng ta tự hỏi tại sao thánh Phaolô dành cho nước mắt một tầm quan trọng đến thế và nó có ý nghĩa gì. Hiển nhiên, nước mắt hoàn toàn trái ngược với niềm vui của người mục tử. Niềm vui là thái độ nền tảng của linh mục, giám mục, như được nói trong thư thứ nhất gởi tín hữu Thessalonica: “Chúng tôi biết nói gì để tạ ơn Thiên Chúa về anh em, vì tất cả niềm vui mà nhờ anh em, tôi có được trước nhan Thiên Chúa chúng ta?” (3, 9). Một mục tử đích thực luôn cảm nhận một niềm vui lớn lao khi được là người đứng đầu một cộng đoàn sốt sắng và đầy đức tin. Người mục tử đó cũng tràn ngập hạnh phúc khi tìm được một con chiên lạc và gặp được đứa con phung phá đang quay gót về nhà. Nước mắt diễn tả nỗi khổ đau đối với một cộng đoàn đamg chao đảo, đòi hỏi nhiều nỗ lực củng cố; nước mắt tượng trưng cho sự đau đớn gây ra bởi những người còn bị xa cách, lo âu đối với con chiên lạc mất, lo sợ đối với những người nhiệt tình lúc bắt đầu nhưng chẳng mấy chốc lại chán nản bỏ cuộc. Sự đau khổ của người mục tử có nhiều lý do; và mặc dù nước mắt của chúng ta không phải lúc nào cũng nhìn thấy được, thì sâu thẳm trong con tim của người mục tử luôn bị vây hãm bởi những câu hỏi, những mệt nhọc và khắc khoải. Trách nhiệm đối với người khác càng lớn thì kinh nghiệm về niềm vui và nỗi khổ càng gia tăng. Ai không phải là mục tử, nhưng chỉ là người làm thuê sẽ không thể có tình yêu đích thực đối với đàn chiên, người đó không cảm thấy niềm vui khi đàn chiên khoẻ mạnh và không chảy nước mắt khi sói xuất hiện. Kẻ làm thuê có những đặc điểm của “một viên chức hành chánh” không hoà mình vào những bổn phận được trao.

 

Tại sao thánh Phaolô nói nhiều đến nước mắt và tại sao câu chuyện của Luca lại nhấn mạnh nhiều đến phương diện này, một phương diện ít được ưa chuộng? Chúng ta có thể nghĩ rằng trong diễn từ Mi-lê-tô, nước mắt được đề cập đến nhiều bởi vì nó diễn tả nhiệt huyết phục vụ, sự âu yếm, trìu mến, sự dấn thân vô điều kiện hơn mọi cách diễn tả khác. Chỉ bằng một từ “nước mắt” thôi, vị Tông Đồ đã nêu ra toàn bộ những tương quan trìu mến được nối kết trong một vài năm; đó là thế giới của những trao đổi tình bạn, của tình cảm sâu xa, đích thực tiến triển giữa thánh Phaolô và các tín hữu. Bây giờ, chúng ta sẽ đưa ra hai kết luận có liên quan đến chúng ta và giúp chúng ta đi từ đọc hiểu sang suy gẫm. 

 

a/ Những đau khổ của người mục tử không phải là điều xấu và chúng ta đừng lấy làm lạ. Khi chịu trách nhiệm về người khác, nhất là khi nói về canh thức và phát triển sự tự do, chúng ta luôn gặp nguy cơ bị từ chối. Trong trường hợp bị từ chối, người mục tử đau khổ không phải vì thất bại, nhưng vì người ta đã không đáp trả lại lời mời gọi của Thiên Chúa. Nước mắt không diễn tả nỗi cay đắng của người mục tử trước thất bại; trái lại, những giọt nước mắt đó biểu lộ lòng trìu mến dành cho những người đã được trao phó cho ngài và họ đã không hiểu lời mời gọi của Chúa; những giọt nước mắt đó là chứng nhân của sự đau khổ nơi người mục tử vì tình yêu Thiên Chúa đã không được đón nhận.

 

Trong những lần đi thăm mục vụ, tôi thường nghe lời phàn nàn của những người có trách nhiệm: thanh thiếu niên không đến nhà thờ nữa, những trẻ em biến mất sau thêm sức, gia đình vẫn đứng bên lề … Tôi có cảm tưởng là những lời than phiền trên không liên quan gì đến nước mắt. Chúng thường diễn tả sự cay đắng hoặc hằn học và không đem lại lợi ích gì. Về những than trách của chúng ta, chúng thường là thói quen tự buộc tội, hoặc là đổ tội cho người khác: giáo dân không quan tâm gì hết, họ không biết gì hết, họ luôn do dự trên con đường theo Chúa, v.v.

 

Đúng ra, trước hết, chúng ta phải khóc than vì người ta đã không đáp lại lời mời gọi của Chúa, vì tình yêu đã không được yêu lại và vì Thiên Chúa, tình yêu vô biên, đã không được nhận biết. Những giọt nước mắt đó mới có tính Tin Mừng, tích cực, và thanh tẩy; chúng xoa dịu những cay đắng cá nhân và những xúc phạm chúng ta gặp phải; chúng giúp làm chủ lại tình thế. Nơi thánh Phaolô, chúng ta không bao giờ gặp những lời đả kích vô ích, nhưng là những phiền trách đầy trìu mến, tin tưởng và khích lệ.

 

b/ Chúng ta không biết những giọt nước mắt của thánh Phao-lô có liên quan đến tội lỗi của ngài không. Nhưng dù sao, các thánh đã khóc tội lỗi của các ngài. Những giọt nước mắt này có ý nghĩa tích cực, bởi vì chúng diễn tả sự thống hối về những nhỏ mọn, những uể oải và những yếu đuối của đời sống sứ vụ và mục tử của chúng ta. Lòng thống hối chân thành sẽ biến thành lời cầu nguyện: “Lạy Chúa, xin tha thứ cho con; xin thương xót con; xin giúp con và cứu con”. Mỗi người chúng ta có thể kéo dài lời cầu nguyện này trong suy niệm và thờ lạy.

 

2. Thánh Phao-lô đề cập đến những thử thách thứ hai là hoàn cảnh bên ngoài. Trong quãng thời gian ba năm ở Ê-phê-sô, người ta đã muốn làm hại ngài, tấn công ngài, bôi nhọ và chỉ trích ngài đủ cách. Những sự kiện đó báo cho chúng ta rằng đừng lấy làm lạ, khi thi hành sứ vụ, chúng ta gặp những người chống đối, vu khống, thư nặc danh, v.v. . Những thử thách này không nhất thiết là tiêu cực: trước thánh Phao-lô, chính Chúa Giêsu đã không chịu như vậy sao? Dù sao đi nữa, kinh nghiệm của thánh Phao-lô nhắc chúng ta nhớ rằng không được lầm lẫn những thử thách trên với những mưu đồ ám hại: Khi phục vụ Chúa, tôi đã hết lòng khiêm tốn, đã nhiều lần phải rơi lệ, đã gặp bao thử thách do những âm mưu của người Do-thái”. Những mưu đồ đó thì xấu xa và đáng kinh tởm. Thánh Phao-lô chống lại chúng vì ngài có thể phân biệt giữa những hành vi cá nhân (gây ra nơi ngài sự phẫn nộ, tức giận, kinh tởm và đánh trả) và sự hiện diện của Chúa khi Người thử thách thánh nhân và quan tâm che chở thánh nhân bằng tình yêu của Người, trên con đường thập giá. Nhờ ơn Chúa, thánh Phao-lô đã có thể phân định ra rằng bàn tay Thiên Chúa dùng những mưu mô loài người: điều đó giúp ngài đối diện với nó, sống với nó một cách thanh thản và tự do, để không bị nó huỷ diệt.

 

Câu hỏi gợi ý:

1. “Nước mắt” của tôi biểu lộ sự cay đắng, hằn học, đổ tội cho giáo dân, cho người khác hay biểu lộ sự đau khổ vì người ta đã không đáp lại tình yêu Thiên Chúa?

2. Tôi đã trải qua những thử thách nào trong đời mục tử, đời kitô hữu? Và tôi có coi đó là những phương cách để tôi hiệp thông với đau khổ thập giá của Đức Ki-tô không?

3. Tôi có biết dùng những “nước mắt” và thử thách để lớn lên trong đời sống thiêng liêng và mục vụ không?

 

Bài viết liên quan:

Canh tân đời sống linh mục theo gương thánh Phao-lô (bài 4)
Canh tân đời sống linh mục theo gương thánh Phao-lô (2)
Canh tân đời sống linh mục theo gương thánh Phao-lô (1)
Một vài nguyên tắc Kitô giáo bất di bất dịch trong Linh Đạo Tính Dục (4)
Định nghĩa Kitô giáo về tính dục (3)
Tính Dục đối đầu với Quan hệ tình dục (2)
Tính dục như Ngọn Lửa Thiêng (1)
Để lại bình an là món quà từ giã của chúng ta cho người thân
Tầm nhìn Giáo hội học và Mục vụ về độc thân linh mục
Chúa Giêsu, Thánh Phaolô và chúng ta đối diện với cái chết
Page 1 of 21 (208 items)
Prev
[1]
2
3
4
5
6
7
19
20
21
Next
Lời Chúa mỗi ngày
Bài viết mới
Câu chuyện chiều thứ 7
Thống kê Truy cập
Đang online: 757
Tất cả: 67,060,105